Vẻ Đẹp Hà Thành

Featured Posts

Sports

Games

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

Luận bàn về chữ " Liêm "

Không có nhận xét nào :
Chữ Liêm vốn có nghĩa chiết tự là “ngay thẳng và trong sạch”. Ngay thẳng là không dối trá, lươn lẹo còn trong sạch là không tham lam, tư túi.  Liêm vốn là đức tính tốt chẳng riêng trong đời sống thường ngày mà còn là giá trị đạo đức cao quý ở chốn quan trường.

Đối nghĩa với chữ Liêm có chữ Gian và Tham. Gian là dối trá, lọc lừa dùng mánh khóe để lươn lẹo, đổi trắng thay đen. Tham là ham muốn quá đáng, luôn muốn vơ hết về mình mọi thứ. Ở đời, người ta tham giàu sang, tham tài trí, tham quyền lực, tham bằng hữu...nhưng vô đáy nhất vẫn là tham tiền. Tham và Gian khi được đi cùng nhau trong một con người thường tạo nên một sự bổ khuyết hoàn hảo. Sự bổ khuyết này giúp quan tham đục khoét, vơ vét một cách hiệu quả và tinh vi. Trong suốt chiều dài lịch sử các triều đại phong kiến của dân tộc, thể chế nào cũng có quan tham, chỉ là mức độ mỗi triều một khác. Có thể chỉ là thụt két vài ba quan tiền thuế như chủ bạ Ðàm Thảo Lư thời Lê, cho đến vì gian tham mà giết vua, bán nước gián tiếp như Hành khiển lộ Hoá Châu Ðỗ Tử Bình ỉm đi mười mâm vàng của vua Chiêm Thành dâng lên vua Trần Duệ Tông nhằm kết hòa hiếu, thay vào đó lại sàm tấu vua Chiêm âm mưu đánh chiếm bờ cõi đất nước. Trần Duệ Tông tin lời đem quân đi nam phạt nhưng đại bại. Hậu quả đức vua tử trận cùng ba viên đại tương, hàng vạn binh lính cũng phải bỏ mạng oan ức ở chốn sa trường. Hay trực tiếp như Đỗ Thích đêm nằm mơ thấy sao sa vào miệng, ngỡ điềm lành, phú quý sẽ đến nên  giết Đinh Tiên Hoàng Đế và Nam Việt Vương Liễn… Chính vì hậu qủa nhãn tiền khó lường trước được của Gian và Tham. Nên trong quy chế của hầu hết các triều đại Việt Nam, đều có những chế tài hà khắc nhằm trừng phạt tội “phạm liêm” từ luận tội rồi đem chém chủ bạ Đàm Thảo Lư cho đến giã xương, băm thịt Đỗ Thích. Song song với các chế tài đó, trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm quan lại đều ưu tiên tiêu chí liêm chính như một đức tính tiêu chuẩn của người làm quan, nhằm lựa chọn và đề bạt được những người vừa có đủ tài vừa đủ tâm tham gia bộ máy nhà nước được thể hiện rõ nhất ở đời Trần. Nơi mà giới hạn đối tượng được thi tuyển quan lại không chỉ dành riêng cho quý tộc phong kiến. Hay tồn tại chế độ “dưỡng liêm” từ thời Đinh và phát triển mạnh ở triều Nguyễn như một mong mỏi duy trì sự liêm chính của quan lại bằng lợi ích kinh tế, tài chính.
Chính nhờ những chế tài hà khắc nên những người như Đàm Thảo Lư, Đỗ Thích, Đỗ Tử Bình trong lịch sử không nhiều và những chính sách nhằm duy trì, xem trọng chữ Liêm trong quan trường, mà giang sơn gấm vốc vẫn trường tồn với những tấm gương hiển hách như Chu Văn An với “Thất trảm sớ” trừng trị bọn tham quan, nịnh thần. Nguyễn Trãi trung nghĩa với “Bình Ngô đại cáo” hay Trần Bình Trọng, rạng ngời khí tiết trước quân Nguyên Mông với câu nói nổi tiếng “Ta thà làm quỷ nước nam, còn hơn làm vương đất bắc”…Nhưng đó là trong lịch sử, còn ở hiện tại lại khác. Rất dễ để viện dẫn ra những quan tham nhưng lại khó khăn trong việc tìm ra một tấm gương liêm chính thật sự.
Trong một cuộc khảo sát nhỏ ở “phố Ông Đồ”. Chữ Liêm và chữ Chính là hai chữ ế ẩm nhất. Nghĩa là chẳng ai xin Liêm và Chính, kể cả dân thường lần những người trong quan trường. Dân thường không xin cũng đành vì bản thân họ không cần sự Liêm Chính, nhưng quan cũng không cần thì thật đáng phải bàn. Người ta thường nói rằng “xin những gì còn thiếu”. Nhưng xem ra trường hợp với quan thì ngoại lệ.Bởi quan đâu có thừa liêm, chỉ là “không cần vì không hữu dụng” và nếu như Liêm trở thành một tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm như chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, trình độ lý luận chính trị…thì ắt hẳn chữ Liêm sẽ trở nên đắt đỏ và khi đó phải viết ra một nguyên lý mới cho quan “xin những gì được yêu cầu”.
 Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn người cán bộ phải thấm nhuần “cần-kiệm-liêm-chính”  và điều đó trở thành tiêu chí của một người cán bộ tốt trong mọi thời đại. Nhưng tiếc thay, tiêu chí thường chỉ được dùng như một câu khẩu hiệu phong trào, ở các hội thảo và trong những bài viết trong khi đó ở đời sống thực, tìm được một vị quan hội đủ “tứ đức” ấy lại là điều khó khăn. Bởi quan niệm về người liêm chính trong quan trường đương đại là người dại, người khờ. Còn kẻ lươn lẹo, mánh khóe lại là tuấn kiệt, khôn ngoan. Tất cả cũng chỉ vì người ta xem giàu sang là đích đến cuối cùng của nghiệp quan chứ không phải vì dân vì nước. Điều này thậm tệ đến nỗi, ví giờ có một vị quan liêm chính thật sự, thì dân cũng không tin hoặc giả tin cũng mồm chữ o, mắt chữ a rồi cuối cùng tặc lưỡi “Ối giời! như nhau cả!”.
Nếu như chủ bạ Đàm Thảo Lư chỉ vì 5 quan tiền thuế mà chịu hình trảm, thì quả thật tiếc cho ông ta. Bởi nếu sống ở thời nay, cái tội ấy to lắm cũng chỉ là khiển trách, kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Điều đó không phải vì luật pháp lơi lỏng mà chỉ vì lòng người lơi lỏng. Mà sự lơi lỏng ấy là cố tình, nhằm bẻ cong cả pháp luật, bẻ cong cả những minh bạch, liêm chính ở chốn quan trường.
Bi kịch lớn nhất của một chính quyền là việc chính những người bảo vệ pháp luật lại là những người phạm pháp. Môi trường tư pháp đòi hỏi nhiều nhất tính liêm chính. Bởi lẽ đó là nơi cuối cùng người dân đặt cả niềm tin và hy vọng được nhìn thấy công lý qua pháp quyền. Nhưng đó cũng là nơi mà người làm quan dễ đánh mất đi sự liêm chính nhất bởi những cảm dỗ của quyền lực và đồng tiền. Nhưng rủi ro là ở chỗ, càng ngày, người ta càng phát hiện nhiều hơn những chánh thanh tra tham nhũng, những vị quan tòa vì một lợi ích nào đó mà tuyên án không công tâm hay những quan chức cấp cao của ngành công an dính chàm và cho đến lúc Đà Nẵng áp dụng tiền “Dưỡng liêm” đối với cảnh sát giao thông năm 2009 cũng là lúc chính quyền trực tiếp thừa nhận một sự thật, rằng cần đòn bẩy tài chính để thức tỉnh tính liêm chính đang bị thiếu hụt trầm trọng ở lực lượng cảnh sát giao thông. Hiệu quả của nó ngoài mong đợi của người dân khi mà lần lượt hải quan, thanh tra, thậm chí giáo viên cùng đòi được hưởng chính sách tương tự. Nghĩa là họ cũng đang mong muốn được đồng tiền cứu rỗi sự sâu mọt trong ngành, trong chính con người mình. Đó là một sự thừa nhận thiếu liêm chính có quy mô và tự giác nhất mà nhân dân từng được thấy. Cuối năm 2013, chính sách này được Đà Nẵng chấm dứt. Nhưng buồn thay đó không phải là dấu liệu cho thấy sự khởi sắc có được sau 4 năm “dưỡng liêm”. Mà vì gánh nặng lên ngân sách ngày càng lớn trong khi có quá nhiều lĩnh vực cần được mua liêm chính bằng đồng tiền như vậy và người ta thấy rằng, cần dùng số tiền đó vào những mục đích quốc kế, dân sinh khác hơn là đi nuôi sự tự trọng của một bộ phận quan chức, công chức có xu hướng tha hóa.
 Thậm chí cái tham ấy còn đeo bám quan đến lúc cởi bỏ mũ mão cân đai. Từ chuyện lấn thêm thước đất, kéo vào đôi ba người con cháu, đến chuyện tư hữu hóa nhà công đều là những viện dẫn khiến ai nghe cũng phải lắc đầu ngán ngẩm.
 Sự vi phạm liêm chính vốn có gốc từ lòng tham cố hữu của con người. Vì muốn tham nhiều hơn mà người ta tìm cách gian và biến sự gian ấy trở thành kĩ năng, kĩ xảo. Một khi đã thấm vào máu như một “phải thế và tất yêu phải thế” trong nghiệp làm quan thì khó lòng rũ bỏ. Nếu như “bát chính đạo” là những con đường thiện lương cứu rỗi những lòng tham ngấp nghé, thì chỉ pháp luật mới có thể trở thành công cụ lý tưởng để răn đe những quan tham “gạo cội”. Pháp luật không chỉ phải đủ mạnh, mà người thi hành và bảo vệ còn phải đủ liêm chính, công tâm. Nghĩa là phải xây dựng nhiều những “Bao thanh thiên” hiện đại, bằng những chính sách riêng biệt từ tiền lương đến cơ chế đãi ngộ đủ lớn để người được thụ hưởng không cần phải lao lực vì tham.
 Cổ nhân từng nhẫn nại dạy cho con cháu biết cách sống ngay thẳng, trung thực, xem chữ Liêm là vốn quý nhất của người làm quan và quả thật nhờ những lời dạy đó mà đất nước đã từng có được những thịnh trị, an bình. Còn ngày nay, người đời vẫn nói nhiều về đạo liêm chính của người cán bộ nhân dân trên báo chí. Nhưng xem ra chẳng có hiệu nghiệm gì mấy. Bởi đa số quan tham còn bận tham nên chẳng hơi đâu ngồi đọc báo, phần ít còn lại đọc được thì cũng nghĩ “chắc nó chừa mình ra”.

Không có nhận xét nào :
Tóm tắt: Hà Nội đang tiến tới kỷ niệm một ngàn năm tuổi. Hà Nội trong mắt người dân Việt Nam và thế giới là mảnh đất kinh kỳ, nơi đó có những người con gái  thanh lịch tinh tế và đằm thắm, dịu dàng. Văn hóa người phụ nữ Hà Nội đã có sự biến đổi theo thời gian. Bài viết tập trung vào nét văn hóa ăn mặc, phong cách ứng xử trong gia đình và cộng đồng của người phụ nữ Hà Nội xưa và nay. Thông qua sự biến đổi về văn hóa ấy, hơn bao giờ hết, người phụ nữ Hà Nội cần kế thừa nét văn hóa truyền thống của người Hà Nội xưa và phát huy nét văn hóa mới phù hợp với thời đại hôm nay.

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

            Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, ai cũng luôn tự hào về cái gốc người Hà Thành của mình. Chẳng phải tự nhiên mà người ta lấy Tràng An để chỉ  địa danh thủ đô Hà Nội thân yêu. Cái tên Tràng An là một địa danh của Trung Quốc xưa kia, gắn với một kinh đô thanh lịch, hào hoa, phồn thịnh. Ở xứ Tràng An-Hà Nội không chỉ có nét đẹp lộng lẫy, hào hoa mà ẩn chứa trong đó cả nét đẹp dịu hiền, man mác, nhẹ nhàng mà sâu lắng. Hai câu thơ trên càng có giá trị và ý nghĩa hơn khi diễn tả về vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội. Nói đến phụ nữ, chúng ta thấy phụ nữ Việt Nam trên mọi miền Tổ quốc đều có nét đẹp riêng. Mỗi vùng quê đều có những người phụ nữ đẹp, họ nổi tiếng với nét đoan trang, đôn hậu, chịu thương, chịu khó mà lịch thiệp. Nhưng nói đến phụ nữ Hà Nội, chúng ta càng thấy rõ điều đó hơn, nó như được nhân lên với nhiều hình ảnh trong quá khứ và hiện tại. Điều này đã ăn sâu vào tiềm thức những người đã đến Hà Nội, đã từng tiếp xúc với người con gái Hà Thành Thăng Long. Nhắc tới vẻ đẹp của người Hà Nội, dường như ngày nay người ta thường hoài cổ về cái đẹp của người con gái Hà Thành xưa kia. Hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam nói chung và người phụ nữ Hà Nội nói riêng xưa kia được đánh giá trên nhiều mặt.
                                                Một thương tóc bỏ đuôi gà
                                    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
                                                Ba thương má lúm đồng tiền
                                    Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
                                                Năm thương cổ yếm đeo bùa
                                    Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
                                                Bảy thương nết ở khôn ngoan
                                    Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
                                                                                    (Ca dao)
Trong giai đoạn hiện nay, trong bộn bề của xứ kinh kỳ, ngoài những biểu hiện văn hóa lố lăng, thiếu thẩm mỹ, nhiều người con gái Hà Nội vẫn luôn giữ được nét đẹp riêng.
            Trước tiên nói đến văn hóa ăn mặc của người phụ nữ Hà Nội xưa kia. Trong những câu chuyện kể, những tác phẩm văn thơ, những nguồn tư liệu quý, chúng ta bắt gặp những người phụ nữ Hà Nội có cách ăn mặc thật nhẹ nhàng kín đáo. Đơn giản mà lịch thiệp, không lòe loẹt mà ấn tượng. Ngày xưa, phụ nữ Hà Nội ăn mặc rất kín đáo. Nếu áo thường là áo dài vạt, nếu có xẻ tà cũng không để hở làn da bên trong. Mầu vải thường nhã nhặn, chất vải kín đáo mà không kém phần mềm mại. Khi ra đường hay tiếp khách, người phụ nữ thường phải mặc áo dài tay thể hiện sự lịch thiệp, tinh tế. Nếu có mặc váy thì váy thường dài đến gót chân. Nhưng phụ nữ Hà Nội ngày nay lại khác. Vì có điều kiện sống tốt hơn nên họ có điều kiện được thể hiện gu thẩm mỹ của mình với nhiều “cung bậc” và mầu sắc phong phú. Người phụ nữ Hà Nội ngày nay thường mặc những bộ đồ sao cho lột tả được vẻ đẹp của mình. Quần áo thường nhấn đến các đường cong của cơ thể. Mầu sắc thường lấy các gam mầu sặc sỡ để gây ấn tượng. Đi ngoài đường phố Hà Nội, trong cái gió heo may,chúng ta cũng không thể không thấy nao lòng trước một người phụ nữ đẹp hiện đại ăn mặc hợp thời trang. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ lại quá lạm dụng cái “hiện đại” trong cách ăn mặc của mình. Cũng là áo xẻ tà nhưng lại cố tình xẻ sâu, thậm chí có nhiều chiếc quần mặc còn “bố trí” khoét đôi chỗ để thể hiện cá tính. Tưởng là ấn tượng, biết đâu đấy chính là sự lố lăng học đòi thiếu thẩm mỹ, làm mất đi hình ảnh tinh tế của người phụ nữ Hà Nội. Nói riêng đến cái áo dài truyền thống của Việt Nam. Người con gái Hà Nội khi mặc nó sẽ đẹp hơn bất cứ một người phụ nữ nào khác vì ở đó chứa đựng nét duyên thầm khó nói. Trước kia, tà áo dài thường dài đến mắt cá chân, chất vải may thường mềm mại, nhưng kín đáo, ít mầu sắc sặc sỡ. Nó tạo nên nét đẹp dịu hiền, tao nhã của người con gái Hà Thành. Nhưng ngày nay, không chỉ riêng ở Hà Nội, chiếc áo dài đã được cách tân cho phù hợp với thời đại. Nhiều màu sắc, nhiều họa tiết, nhiều chất vải đã được đưa vào để thể hiện nét đẹp của chiếc áo dài. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy chạnh lòng khi bắt gặp nhiều phụ nữ Hà Nội, đặc biệt là nhiều thiếu nữ mặc những chiếc áo dài thiếu tính thẩm mỹ. Nhiều chiếc áo dài “voan kính” trong suốt, có thể nhìn thấu bên trong, hay nhiều chiếc cổ áo dài ba phân được thay vào là cổ hở, cổ trễ, thiếu đi tính trang nhã, kín đáo của người phụ nữ Hà Nội. Ngoài đường phố Hà Nội giờ đã xuất hiện nhiều hơn những quần soóc, áo hai dây. Nhiều phụ nữ thậm chí tiếp khách hay ra đường bằng bộ đồ ngủ hay áo hai dây, đây là sự thể hiện tính cẩu thả thiếu tôn trọng của bản thân đối với người xung quanh. Ông cha ta thường nói “đói cho sạch, rách cho thơm”. Ý nghĩa của câu tục ngữ này khiến chúng ta phải biết trân trọng vẻ đẹp của bản thân ngay cả khi có thiếu thốn. Nhưng ngày nay, con người không phải thiếu cái ăn, cái mặc mà là thiếu hiểu biết. Sự thiếu hiểu biết sẽ làm cho con người nghèo đi rất nhiều.
Mỗi thời đại đều có cách thể hiện vẻ đẹp riêng. Ngày nay gười phụ nữ Hà Nội đã biết cách chăm sóc nước da của mình kỹ hơn bằng việc đi masage, spa, ngay cả cái móng tay cũng được quan tâm kỹ lưỡng. Nếu như trước đây, người phụ nữ Hà Nội luôn được đánh giá cao với bàn tay nhỏ nhắn, thon dài, móng tay cắt ngắn không mầu mè thì ngày nay nhiều cô gái đã thêm phần làm đẹp cho bàn tay mình bằng những hoạ tiết trang trí móng tay. Cũng có những bàn tay trở nên ấn tượng hơn nhờ các hoạ tiết ấy, song cũng có những bàn tay phản cảm bởi mầu sắc lạ lẫm với những hình thù kinh dị. Thậm chí người ta không chỉ vẽ móng tay, móng chân, mà người ta còn “vẽ” trên người. Ngoài đường phố Hà Nội, chúng ta vẫn hay bắt gặp những hình săm tinh quái trên cánh tay hay trên cổ của nhiều cô gái trẻ. Những người Hà Nội xưa còn sống đến nay vẫn cho đấy là cách thể hiện cái đẹp thiếu tính thẩm mỹ. Ngay trong cách trang điểm của người phụ nữ Hà Nội xưa kia cũng khác nay. Chúng ta dễ dàng nhận thấy vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội xưa, hay ngay cả gần đây, trong những thập niên 40 hoặc 50 của thế kỷ hai mươi sao mà nhẹ nhàng và quý phái đến vậy. Họ không trang điểm cầu kỳ, không lòe loẹt phấn son mà họ vẫn đẹp. Đẹp đến nỗi có nhà văn phải nói “Riêng khuôn mặt, phụ nữ Hà Nội xưa nay vẫn hấp dẫn lạ lùng trong mọi con mắt, mọi trái tim từ người thợ đến nhà thơ”. Người phụ nữ Hà Nội xưa trang điểm rất nhẹ nhàng. Có dùng son nhưng rất nhẹ, làn môi chỉ hơi hồng hồng một chút tạo vẻ cuốn hút. Nếu có chải lông mày, các cô, các chị chỉ tô thêm nét cho đậm đôi chút. Thế mà vẻ đẹp thanh tao vẫn toát lên khiến nhiều người không khỏi sao xuyến. Ngày nay, người phụ nữ Hà Nội có nhiều điều kiện làm đẹp mình hơn nhờ sự phong phú về mỹ phẩm, nội có, ngoại có. Bên cạnh nhiều chị em phụ nữ biết cách trang điểm sao cho hợp với khuôn mặt, màu da của mình, còn rất nhiều người mải chạy đua theo mốt trang điểm đến nỗi trang điểm vào mà lại xấu đi, trông thật kệch cỡm. Nhiều người chỉ đi ăn tối với bạn bè thôi mà trang điểm như diễn viên lên sân khấu. Lông mày đang đẹp, nhiều phụ nữ lại tỉa bớt đi, cho gọn, gọn quá nên biến mắt mình thành mắt sếch. Nhiều người quá lạm dụng công cụ làm đẹp mà quên đi vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Có nhiều cô gái đi học cũng kẹp mý giả để cho đôi mắt ấn tượng hơn, bất chấp sự bất tiện không đáng có. Nói về mái tóc của người phụ nữ Hà Nội cũng có nhiều điều để nhớ. Ngày nay, ra đường sao ít gặp những mái tóc dài thướt tha đến vậy. Dẫu biết rằng mỗi thời đại đều sinh ra những gu thẩm mỹ khác nhau nhưng sao vẫn thấy xao xuyến khi nhớ về Hà Nội một thời. Còn gì đẹp hơn khi ta bắt gặp những cô gái Hà Thành đạp những chiếc xe đạp quanh Hồ gươm với tà áo dài và mái tóc dài buông hờ hững. Dù có ăn mặc thế nào, nhưng mái tóc dài của các cô gái cũng sẽ tạo cho đối phương của mình nhiều thiện cảm. Bởi mái tóc không chỉ thể hiện về thẩm mỹ của mình mà còn thể hiện tính giáo dục, tính cách và sức khỏe của người phụ nữ. Ngày xưa, đa số phụ nữ Hà Nội để tóc dài. Họ thường búi tóc hoặc quấn tóc vào những chiếc khăn mỏ quạ trông rất gọn ghẽ và thanh lịch. Biết bao chàng trai đã phải ngơ ngẩn trước những mái tóc thướt tha của người con gái.
                                     “Anh đi khắp bốn phương trời
                             Chẳng đâu lịch sự bằng người ở đây
                                      Gặp em má đỏ hây hây
                              Răng đen nhưng nhức, tóc mây rườm rà”
                                                                                    (Ca dao)
Còn ngày nay, các kiểu tóc ra đời, không chỉ cắt ngắn mà thậm chí còn quá nhắn đến nỗi người ta tưởng đấy không phải là phái nữ. Nhiều cô gái tưởng đấy là sự thể hiện cá tính riêng, nhưng đâu phải. Không chỉ tóc nâu, còn cả tóc vàng, tóc xanh, tóc ánh kim...thật lạ. Vấn đề ở đây không phải mầu tóc, kiểu tóc mà vấn đề là liệu nó có phù hợp với khuôn mặt mình hay không. Đã không ít các cô gái đã tự làm mình già đi và xấu hơn bởi những kiểu tóc lạ. Người phụ nữ Hà Nội xưa ít trang điểm mà sao vẻ đẹp của họ vẫn không lẫn vào đâu được. Phải chăng ngay cả trong chính khuôn mặt họ đã chứa đựng vẻ đẹp mà ít ở đâu có được.
Phong cách đi đứng, giao tiếp trong văn hóa ứng xử của người phụ nữ Hà Nội nay cũng đã khác xưa rất nhiều. Trước đây dấu ấn về người con gái Tràng An chính là mẫu người thanh tao,đoan trang, nhã nhặn. Nét thanh tao ấy thể hiện ngay trong cách đi đứng, ứng xử giao tiếp thường ngày. Người phụ nữ Hà Thành xưa kia đi đứng nhẹ nhàng, ăn nói rất nhỏ nhẹ, ý tứ. Ngày xưa phụ nữ Hà Nội thường đi đôi guốc mộc,mà guốc mộc thường phát ra âm thanh lớn. So với các loại giầy dép phong phú như hiện nay, chắc chắn tiếng động dễ nhận ra hơn rất nhiều do âm thanh của gỗ. Nhưng sao chúng ta vẫn cảm nhận thấy bước chân của người Hà Nội xưa nhẹ nhàng vậy. Sự nhẹ nhàng tinh tế ấy có được là do bước chân khoan thai, ý tứ của người con gái. Trước đây con gái Hà Nội luôn có bước đi khoan thai, từ tốn, nhanh nhẹn nhưng không vội vàng. Thật khó có thể tìm thấy người con gái Hà Nội nào ra đường với vẻ hấp tấp vội vàng. Dù vội, họ cũng luôn tỏ ra điềm tĩnh nhã nhặn và lịch thiệp. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, người ta luôn cảm thấy thời gian như trôi nhanh hơn, nên nhìn ai cũng thấy vội vã. Cũng do điều kiện xã hội chi phối nhiều nên ngày nay, người phụ nữ phải bươn chải, thích nghi với môi trường xung quanh nên không vội vàng sao được. Đường phố Hà Nội ngày nay đâu còn như trước, yên bình, lặng lẽ với những gian nhà cổ, những chiếc xe đạp cổ, hay cùng lắm là chiếc xích lô ba bánh. Có lẽ chính khung cảnh yên bình ấy tạo nên sự khoan thai trong người con gái Hà Thành. Hà Nội bây giờ đông đúc, không chỉ xe đạp, xe máy, còn cả ô tô. Dân số lại tăng lên rất nhiều, tránh sao khỏi việc tắc đường, kẹt xe. Thế nên sáng đi làm, chiều về với gia đình, người phụ nữ luôn phải đối mặt với sự chen chúc, đường chật người đông. Nhiều người còn quên mình là phụ nữ khi cục cằn văng bậy với người bên cạnh khi bị lấn đường. Thậm chí có lức các bậc cha mẹ cũng thấy thật buồn lòng khi chứng kiến nhiều vụ ẩu đả của các cô nữ sinh bên ngoài cổng trường, ngay giữa lòng thủ đô. Nhưng thật lạ là cũng chính trong khung cảnh đông đúc,vội vã ấy vẫn có nhiều người phụ nữ giữ được nét lịch thiệp của người Hà Thành. Họ từ tốn, nhã nhặn nhường đường cho người khác. Đi trên phố, họ thong thả bước chân nhẹ nhàng dạo bước. Vào hội trường, đi xem phim, họ luôn giữ ý tứ đi lại nhẹ nhàng, chỉ sợ bước chân mình làm ảnh hưởng đến người xung quanh. Thật đáng quý biết mấy. Ngày xưa, ra chỗ đông người, ít khi thấy người phụ nữ nào xô bồ, thô lỗ. Họ thường ngượng ngùng khi tiếp xúc với người lạ, và lại càng thẹn thùng khi tiếp xúc với người khác giới. Người ở nơi khác đến khi tiếp xúc với con gái Hà Nội, người ta đều ấn tượng về giọng nói thỏ thẻ, dễ nghe và cuốn hút không lẫn đi đâu được. Dường như, trong các gia đình truyền thống xưa kia, các bà mẹ thường giáo dục con gái của mình nhiều hơn về ứng xử, giao tiếp. Chính vì vậy nét văn hóa ấy cứ được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một câu đối đáp của họ cũng có từ thưa gửi, dạ vâng. Khi nghe người trên nói, các cô gái thường cúi đầu, lắng nghe rất kính trọng. Nếu có đi với chồng, ở nơi công cộng, các cô gái cũng không dám thể hiện tình cảm của mình. Một cái cầm tay cũng thấy ngại ngùng. Thật ý tứ biết mấy. Nhưng ngày nay, cái tự do của xã hội hiện đại đã làm dần mất đi sự thanh tao, đẹp đẽ ấy. Nhiều phụ nữ mải mê thể hiện tình cảm của mình mà quên rằng bên cạnh mình còn bao người. Trong quán xá, ngoài vỉa hè, chúng ta vẫn hay bắt gặp các cô gái trẻ tự nhiên ngồi rung chân, cười nói hồn nhiên, nói to đến nỗi mọi người xung quanh phải ngoái lại không hiểu chuyện gì. Nhiều cô gái đi xe ngoài đường còn giăng hàng ba, hàng bốn, nhiều lúc còn phá lên cười ngạo nghễ khi trêu được một chàng trai thư sinh. Họ có biết rằng chính hành động kém ý thức ấy đã làm xấu đi hình ảnh người phụ nữ Hà Nội mà bao đời nay đã trở thành dấu ấn. Họ quên mất rằng cách nói năng ứng xử chính là thể hiện đậm nét nhất truyền thống văn hoá gia đình. Làm sao thấy đáng yêu khi trên khuôn mặt đẹp đẽ, cái miệng xinh xinh lại chất chứa bao lời nói thô tục. Những cô gái ngày nay có biết rằng dù ngày nay hay xưa kia, cái duyên vẫn là thước đo nhân cách của người con gái.
       Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng
Thương ai chúm chím cười duyên một mình.
(Ca dao)
            Trong đời sống gia đình, người phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn hạnh phúc. Người phụ nữ Hà Nội nổi tiếng với sự đằm thắm, dịu dàng trong ứng xử gia đình. Ngày xưa, người phụ nữ thường tần tảo, chăm chút đến đời sống gia đình nhiều hơn, họ cần mẫn với việc chăm sóc dạy dỗ con cái nhiều hơn, đặc biệt là giáo dục nhân cách cho con cái. Người phụ nữ trong gia đình luôn là ngọn lửa giữ ấm ngôi nhà của mình. Họ rất ý tứ trong mỗi hành vi ứng xử. Bữa cơm trong gia đình, họ thường ngồi đầu nồi để xới cơm, tiếp thức ăn cho bố mẹ, chồng con. Họ luôn là người dậy sớm nhất và cũng là người đi ngủ sau cùng. Sáng sớm, người phụ nữ bao giờ cũng dậy sớm quét dọn nhà cửa, đun ấm nước sẵn để chờ mọi người dậy có nước ấm pha trà, rửa mặt. Buổi tối nếu mọi người chưa đi ngủ, chắc chắn họ sẽ vẫn thức. Nhiều khi cũng không có việc gì, song đấy chính là nét đẹp của người phụ nữ xưa khi họ luôn giữ ý tứ trong mọi lúc mọi nơi. Người phụ nữ trước đây thường nêu cao tấm gương cho con cái học tập. Họ luôn tự tay chăm sóc giáo dục con cái, từ việc học hành đến cách đối nhân xử thế. Họ rất giỏi việc tề gia nội trợ, nữ công gia chánh. Họ luôn thích thú và tự hào với việc chính tay mình làm ra những chiếc áo cho chồng con, chính tay mình nấu những bữa cơm cho gia đình ăn. Họ uốn nắn con trong từng cử chỉ, lời nói, nhất là con gái. Phải chăng chính vì vậy, những người con gái nào ngày nay còn được thừa hưởng lối giáo dục ấy thì luôn giữ được nét đẹp của người Hà Nội xưa. Kể cả dù có đi đâu hay giữa đám đông, họ vẫn toát lên nét đẹp rất riêng, không lẫn đi đâu được. Thời đại đã thay đổi, người phụ nữ ngày nay đã có nhiều cơ hội thể hiện vai trò của mình trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Họ bộn bề với công việc xã hội nhiều hơn, giữ nhiều vị trí quan trọng trong công ty hay tổ chức nào đó. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải suy nghĩ khi có nhiều phụ nữ mải công việc xã hội, mải kiếm tiền mà quên đi vai trò chính của mình trong gia đình. Nhiều phụ nữ Hà Nội đã bỏ lại công việc gia đình cho người giúp việc. Ban ngày họ mải công việc cơ quan, những cuộc tiếp xúc bạn bè, đối tác. Tối về họ chỉ muốn nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi. Thế nên bữa cơm gia đình lúc nào cũng chỉ muốn nhanh gọn, ăn cơm nhà hàng càng tốt, đỡ phải mất công chuẩn bị. Nếu có ăn ở gia đình, các bà mẹ thường nghĩ đến món ăn nào chế biến nhanh nhất để tiết kiệm thời gian. Thế nên, các món ăn sẵn mới được nhiều gia đình sử dụng đến vậy. Thời gian ít nên người phụ nữ có rất ít thời gian để dạy dỗ con cái. Họ tập trung chủ yếu vào việc đưa con đến trường và phó mặc sự dạy dỗ cho nhà trường. Còn các kỹ năng sống, vấn đề đạo đức, ứng xử của con cái, các bà mẹ ngày càng ít chú ý hơn. Vậy thì Hà Nội làm sao có được nhiều hơn hình ảnh người phụ nữ đẹp toàn diện như xưa. Thật may là bên cạnh những người bộn bề với công việc xã hội, vẫn còn rất nhiều phụ nữ Hà Nội ngoài việc khẳng định vai trò của mình trong lĩnh vực kinh tế, biết lo toan chăm sóc gia đình. Vẫn còn rất nhiều người yêu Hà Nội, yêu nét văn hoá Hà Nội xưa. Họ dạy con cái biết phát huy những nét đẹp của người con gái Hà Thành và cũng biết làm mới mình với hơi thở của thời đại. Họ dạy dỗ con cái theo cách mà cha mẹ họ đã giáo dục mình. Nhưng họ cũng cho con cái sự tự do phát huy cái riêng, cái tự do trong cuộc sống. Chính vì vậy Hà Nội vẫn không thiếu đi những người con gái Hà Nội hiện đại song vẫn thanh lịch, tao nhã. Có một người con gái Hà Nội hiện đại đã từng nói lên cảm xúc khi thấy mình vẫn có được những nét đẹp truyền thống của người Hà Nội xưa: tôi đã biết được mình không phải là người dại như người ta đôi khi nói, xin được làm một bông hoa để nếu người lạ dừng lại một phút ngắm nhìn, sẽ thấy một cảm giác ngọt ngào, thanh thản để quên đi một chút những nhọc nhằn. Vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội thế đấy, vừa hiện đại lại cổ điển, rất tinh tế mà dịu dàng.
 Hà Nội sẽ càng đẹp hơn khi có nhiều người phụ nữ Hà Nội thành đạt trong xã hội. Trên nhiều lĩnh vực họ đang góp sức xây dựng đất nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Ngày nay họ đã biết làm đẹp mình hơn, làm mới mình hơn và biết phát huy cái lịch thiệp, hào hoa của con người Hà Nội vào việc thể hiện mình. Song không phải cái mới nào cũng tốt, cũng hay, cái quá khứ nào cũng lạc hậu. Người phụ nữ Hà Nội đang trong quá trình kế thừa những nét đẹp văn hóa của con người Thăng Long-Hà Nội ngàn năm tuổi, và phát huy những nét đẹp hiện đại của thời đại mới để làm nên nét đẹp của người Hà Thành- người phụ nữ Thủ đô thanh lịch văn minh hôm nay và mãi mãi mai sau.

Người Hà Nội

Không có nhận xét nào :
Trải qua quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước với bao thăng trầm và biến động nhưng những phẩm chất tốt đẹp và giá trị tinh thần bền vững vẫn in đậm trong lối sống của người Thăng Long - Hà Nội., đó là:

Lòng tự trọng bắt nguồn từ ý thức dân tộc, trân trọng và tự hào về truyền thống vẻ vang của tổ tiên, ông cha trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như trong quá trình cách mạng và kháng chiến. Người Hà Nội luôn luôn trân trọng và tự hào về những chiến thắng lẫy lừng chống ngoại xâm trên đất "Rồng bay".

Lòng nhân ái, khoan dung, yêu chuộng hòa bình. Lòng nhân ái của người Hà Nội vốn đã có nguồn gốc sâu xa từ chính cuộc sống, sinh hoạt và đấu tranh lâu dài của dân tộc. Đây là bản chất, đồng thời là hệ quả tất yếu của một đất nước đã buộc phải giành đến hơn một nửa thời gian lịch sử của mình để đối phó với chiến tranh.

Nghị lực, trung thực, thẳng thắn và giàu nghĩa khí. Người dân ở các vùng của đất nước đưa nghề thủ công về Hà Nội, tạo thành nghề 36 phố phường sầm uất. Nghị lực của người Hà Nội còn được thể hiện ở con đê ngăn lũ sông Hồng đắp suốt chiều dài lịch sử ngàn năm xây dựng đô thành.



Óc thực tế, sáng tạo và nhạy cảm với cái mới. Do hoàn cảnh đô thị hội tụ người bốn phương nên khách quan đòi hỏi người Hà Nội có đầu óc thực tế, thể hiện ở các mặt: Xem xét tính toán trong làm ăn để có lợi nhiều. "Khéo tay hay làm, đất lề Kẻ Chợ" là câu ngạn ngữ quen thuộc ca ngợi tài hoa, sáng tạo của những người thợ thủ công kinh thành. Người Hà Nội xưa và nay có khả năng thích nghi rất nhanh, rất nhạy cảm, khá năng động và không ngại tiếp nhận những cái mới và tìm tòi, cải tiến, sáng tạo thành cái của mình. Điều này thể hiện trong các công trình kiến trúc, văn hóa, trong việc du nhập các luồng tư tưởng tôn giáo, không chỉ tiếp xúc giao lưu với các nền văn hóa phương Bắc mà cả với nền văn hóa phương Tây...

Trọng học thức, chuộng cái đẹp. Chính vì Hà Nội là nơi hội tụ và đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc, nên vùng đất và con người Thăng Long cũng là nơi có tinh thần ham học và quý trọng trí thức. Do sống trong môi trường của đô thành, lại có học vấn khá nên người Hà Nội cảm nhận được vẻ đẹp từ thiên nhiên, cảnh quan môi trường, kiến trúc nghệ thuật, thích thưởng ngoạn những nơi thiên nhiên đẹp, những bức tranh đẹp.

Thanh lịch. Nói đến vẻ đẹp của người Hà Nội là nói đến nếp sống thanh lịch hay: Lịch sự, tinh tế trong cách ứng xử, giao tiếp, xử lý các mối quan hệ một cách mềm mại, uyển chuyển mà hiệu quả cao. Sự thanh lịch của người Hà Nội được thể hiện qua từng lời nói. Cái thanh, cái đẹp của tiếng nói Hà Nội ở chỗ chuẩn xác, phát âm đúng, mẫu mực cho cả nước. Nét thanh lịch của người Hà Nội được thể hiện ở trang phục. Trong trang phục của cả nam và nữ, của người già và trẻ em… luôn giữ được vẻ trang nhã, hài hòa, giản dị và mỗi người ăn vận đúng với vị thế xã hội và nghề nghiệp của mình. Trang phục áo dài của thanh nữ Hà Nội vẫn là nét đẹp tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam. Trong ăn uống của người Hà Nội thể hiện nét thanh lịch ở trình độ thẩm mỹ cao, sự tinh tế trong công việc chế biến thức ăn. Chính chất sành điệu trong ăn uống ấy mà người Hà Nội đã sáng tạo nhiều món ăn nổi tiếng trở thành đặc sản Hà thành như: Phở, bún thang, bún ốc, chả cá, bánh cuốn Thanh trì, chè kho, cốm vòng, bánh tôm Hồ Tây…

Những đặc trưng về lối sống của người Hà Nội trải qua lịch sử trên cho thấy: có những đặc trưng truyền thống đã trở thành giá trị văn hóa, có đặc trưng truyền thống không có giá trị văn hóa. Nắm được, nhận thức được các đặc trưng truyền thống, để chọn lọc, phát huy và phát triển những nét truyền thống văn hóa bền vững và gạt bỏ những nếp truyền thống xấu là trách nhiệm của mỗi chúng ta hôm nay.